Cao Thủ Hạ Sơn, Ta Là Tiên Nhân

Chương 1188:




Giống như ‘thượng đế’, vốn chỉ ‘thượng đế trên trời’, nay lại thành từ để gọi các thần toàn trí toàn năng của giáo phái phương Tây.
Thực ra trong giáo phái phương Tây không có khái niệm ‘trời’, chỉ có thần, thiên sứ, nên gọi là thần sứ. Chúng cũng không phải con người, càng không có máu thịt, chỉ là ngẫu nhiên hiện thế với hình người, giống như một loại linh yêu.
Hoặc là dứt khoát dịch âm thành ‘An kỳ nhi’ hoặc là ‘an cát la’ dùng để chỉ thì hợp lý hơn. Như vậy con người sẽ không lẫn lộn ý nghĩa với thiên sứ.
An kỳ nhi/ an cát la: phiên âm của từ angela (thiên thần)
Lý Dục Thần đến từ Thiên Đô, lại là tổ đình Vạn Tiên, Lục Kính Sơn gọi anh là thiên sứ, là chuyện rất bình thường.
Vì chị Mai sinh ra ở thời hiện đại, không quen lắm, sau khi bà ta biết tuổi tác của Lục Kính Sơn, liền hiểu tại sao người ta gọi tự nhiên như vậy. Càng cảm thấy chút công phu đắc ý của mình quá yếu trước mặt Lục Kính Sơn.
Lục Kính Sơn thay bộ quần áo trông càng trẻ hơn, tuy đã cố ý giữ vẻ trưởng thành của đàn ông trung niên, nhưng làn da trắng tinh, răng trắng môi đỏ, mày kiếm sắc xảo, lại trông như một mỹ nam thực sự.
Ông ta gặp Lý Dục Thần, liền thu lại nụ cười, trở nên nghiêm túc, hỏi: “Đã là sứ giả từ Thiên Đô, cậu có Thiên Đô Lệnh không?”
Lý Dục Thần lấy ra một tấm lệnh bài, giơ trong tay, lệnh bài bắn ra một đường sáng, xuất hiện một đao thiên phù trong hư không, trên đó có hai chữ Thiên Đô.
Lục Kính Sơn thấy vậy, liền phủi bụi quỳ xuống, cất giọng run run nói: “Đồ đệ bất hiếu Kính Sơn, bái kiến thiên sứ!”
Lý Dục Thần vội vàng đỡ ông ta lên, cất Thiên Đô Lệnh đi, hỏi: “Đảo chủ Lục, ông thực sự là đệ tử Thiên Đô ư?”
Lục Kính Sơn thở dài một hơi, cười khổ nói: “Tôi là đệ tử bị vứt bỏ của Thiên Đô. Hai trăm năm trước, tôi đã bái sư Vân Dương Môn, trở thành đệ tử Thiên Đô. Đó là vinh dự thế nào chứ!”
“Vây sau đó sao lại…”
“Trăm năm trước, tôi phụng lệnh xuống núi, vào hồng trần, tìm kiếm cơ duyên đột phá. Lúc đó, thế giới hỗn loạn, chiến loạn không ngừng, nhân gian như địa ngục. Tôi hành tẩu trong nhân gian, trừng trị cái ác, phát huy cái thiện, giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh. Nhưng sức một mình tôi không thể thay đổi được gì. Thấy nhiều nỗi khổ người đời, tôi nảy sinh tâm ma, sát nghiệt nặng nề, cuối cùng thói quen khó sửa, rời vào ma đạo…”
Nói đến đây, trên khuôn mặt Lục Kính Sơn hiện lên vẻ đau khổ.
Lý Dục Thần có thể hiểu được nỗi khổ của ông ta. Người tu hành không sợ gì hết, chỉ sợ nhập ma. Đặc biệt là bái dưới môn hạ Vạn Tiên người người ngưỡng mộ, được người ta tôn làm thiên sứ, lại không thận trọng rơi vào ma đạo, lúc đó dằn vặt nội tâm và nỗi khổ của linh hồn, nghĩ cũng biết.
“Cũng may sư phụ kịp thời xuất hiện, mới không để tôi phạm sai lầm lớn hơn. Sư phụ phế đi tu vi của tôi, đuổi tôi khỏi Côn Luân. Lúc đó lòng tôi đã nguội lạnh, liền đến biển Đông, định tìm một hòn đảo, kết thúc cuộc đời. Không ngờ, tôi bị hải tặc bắt được”.
Lục Kính Sơn tự cười chế nhạo.
“Hang ổ của đám hải tặc chính là đảo Cửu Long. Chúng bắt tôi đến đây, làm việc khổ sai cho bọn chúng. Lúc đó phần lớn số người người trên đảo Cửu Long đều là nô dịch của họ bắt đến, đàn ông thì làm việc nặng, phụ nữ thì để chúng hưởng lạc, một khi không vui, thì giết người dìm xuống biển. Tiếc là lúc đó tôi đã mất hết tu vi, sức lực còn không bằng người bình thường, không hề có năng lực phản kháng, càng đừng nói đến cứu người”.
“Nhưng sự độc ác của đám hải tặc và nỗi khổ của dân đảo đã kích thích dũng khí sống tiếp của tôi. Tôi thề, sẽ đuổi đám hải tặc ra khỏi đảo Cửu Long, phải để người ở đây thoát khỏi biển khổ”.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.