Touch Of Enchantment

Chương 23:




“Dường như hậu quả của tội lỗi là giấc ngủ của người chết.” Khi nghe câu tuyên cáo nghiêm khắc đó, Colin banh một mắt ra và thấy Arjon đang đứng trên đầu giường, cười toe toét ranh ma xuống anh.
Anh rên rỉ và chôn đầu dưới cái gối nhồi lông. “Nội chuyện Chúa phái một tên ác ôn như cậu đến tra tấn tôi cũng đủ là một sự trừng trị rồi.”
“A, nhưng tên ác ôn hay bạn cậu thì còn phải xem đã.”
Quẳng cái gối vào Arjon, Colin ngồi lên. Cử động bất chợt đó gần như giết chết anh. Anh bóp chặt hộp sọ giữa hai lòng bàn tay trong một cố gắng vô vọng để khiến nó ngừng chộn rộn. “Cậu có vui lòng đi nói với linh mục của MacDuff ngừng rung những cái chuông đáng nguyền rủa đó được không?”
Anh chàng người Norman nghiêng đầu sang bên, chăm chú lắng nghe. “Tôi e là chẳng có gì ngoài hồi chuông gióng lương tâm của cậu đấy.” Mỗi tiếng tặc lưỡi trách mắng của anh ta nghe như tiếng xoành xoạch của cái chập cheng đối với tai Colin. “Ôi, đấng tối cao đã tử nạn!”
Colin vắt hai chân qua thành giường, nhăn mặt khi một cơn đau bén ngót đâm xuyên qua đầu anh. “Cậu cứ việc hả hê đi, nhưng xin cậu kiềm chế đừng có trích dẫn kinh thánh cho tôi nghe. Thật đáng lo khi câu đó lại đến từ đôi môi dâm đãng của cậu.”
“Cậu lại đi xúc phạm tôi trong khi tôi đến để thương xót linh hồn ô uế của cậu sao.” Arjon ấn một cái cốc vào hai tay anh.
Colin cau có nhìn xuống thứ chất lỏng có mùi hôi. “Loại thuốc độc gì đây?”
“Không phải thuốc độc, mà là một thuốc giải cho cái nọc độc mà cậu đã uống tối qua đấy.”
Bắn cho anh ta cái nhìn ngờ vực, Colin uống cạn chất thuốc hăng hắc trong cái cốc, rồi rùng mình. Chất thuốc đó đã thông thoáng một phần sự mờ mịt trong đầu anh, nhưng không có ích gì trong việc làm dịu đi cái vị chua chát ở miệng anh. Một sự cay đắng không hẳn là do rượu mạnh mà do những lời chua cay giữa anh và Tabitha.
“Tabitha…” anh thì thầm, bần thần bởi mối tương tư tràn về.
Bị kích động bởi một ký ức mơ hồ, anh đưa tay xuống dưới gối và tìm thấy một sợi dây chuyền rối. Anh trải sợi dây đã mờ xỉn dài ra cho đến khi một viên ngọc lục bảo xoay xoay trước mắt anh, chế nhạo đôi mắt mờ của anh bằng ánh sáng lấp lánh ngoan cường của nó.
Bằng cách lấy đi viên ngọc, anh đã chỉ nghĩ đến việc bảo vệ Tabitha khỏi chính cô. Nhưng lúc này anh vẫn có thể thấy được những giọt nước mắt long lanh của cô khi cô gần như mở miệng cầu xin anh hãy tin tưởng cô. Anh sợ mình đã làm tan nát trái tim cô một cách vô tâm như cái cách anh bứt đứt sợi dây chuyền mỏng manh.
Anh lờ mờ nhớ lại đã loạng choạng về lại phòng sau trận cãi vã của họ, chỉ một mực nhận chìm sự đau khổ của anh trong một hũ rượu khác. Nhưng những điều họ đã nói với nhau vẫn còn ám ảnh anh, vọng lại với tiếng rung của hồi kết thúc.
“Cậu có thấy cô ấy không?” anh hỏi Arjon.
Arjon thở dài. “Cậu còn có những vấn đề gấp rút hơn là tiểu thư xinh đẹp của cậu. Ngay lúc này, MacDuff đang họp bàn với con rắn độc của Brisbane. Bọn họ đã tự nhốt mình trong gần một giờ và sau buổi trình diễn nhỏ đầy xúc động của cậu và Tabitha đêm qua, tôi cá là họ không bàn chuyện giá cả của rơm hay thuế vua cắt cổ đâu.”
Colin chớp mắt nhìn lên anh ta. “Bọn tôi đã rõ ràng đến thế sao?”
“Cậu phải mù quáng vì tình như cô con gái ngốc nghếch đó của MacDuff mới không nhận thấy.”
“Lyssa,” Colin thì thầm, che một bàn tay lên mắt anh. “Chúa ơi, tôi không hề muốn làm tổn thương cô ấy.”
“Vậy thì đừng làm.”
Colin chưa từng thấy anh chàng người Norman trầm tính tức giận bao giờ, nhưng anh gần như có thể thề cơn giận điên người đang nung nấu trong mắt bạn anh.
“Đến chỗ MacDuff ngay bây giờ và cầu xin lòng khoan dung của ông ấy. Mặc cho những câu khoác lác và trò đe dọa của mình, ông ấy vẫn luôn yên mến cậu. Nói với ông ấy Tabitha chẳng qua chỉ là một sự thiếu suy xét tình cờ, cậu đã hối hận và ăn năn. Rồi lấy Lyssandra làm vợ. Ngay hôm nay. Trước khi cậu làm tan nát trái tim ngốc nghếch của cô ấy.”
Colin đã thiếp đi trong quần bó của anh nên anh chỉ phải chộp lấy cái áo dài đến thắt lưng sạch từ túi đi đường và đi ủng rồi cài khuy. Anh cột thắt gút sợi dây chuyền của Tabitha lại trước khi tròng vào đầu.
“Thế mới đúng là một cậu bé ngoan. Chúng ta sẽ biến cậu thành một người chồng tốt.” Arjon dựa vào tay nắm cửa. Nụ cười của anh ta đã trở lại, nhưng sâu sắc hơn thường lệ.
Nụ cười tan biến hoàn toàn khi anh ta thấy vẻ mặt quả quyết của Colin. “Tôi phải nói chuyện với Tabitha trước đã. Tôi sợ mình đã làm cô ấy tổn thương vào đêm qua.” Giắt thanh gươm của anh lên đai, anh bước tới cửa.
“Cô ấy đi rồi,” Arjon nói thẳng thừng.
Colin chậm chạp ngẩng đầu lên, thầm cầu nguyện sự lùng bùng trong đầu của anh đã làm giảm thính giác của anh.
Arjon gật đầu. “Cô ấy đã cưỡi ngựa đi từ lúc bình minh. Tôi đã thấy cô ấy từ cửa sổ phòng mình.”
Colin ước lượng từng chữ như thể nó là từ cuối cùng anh nghe thấy. “Và cậu đã không đánh thức tôi dậy?”
Khuôn mặt bạn anh nhăn nhúm lại thành vẻ van nài, mặc dù anh không biết được anh ta đang van nài anh hãy cảm thông hay tha thứ. “Hãy để cô ấy đi,” anh ta thì thầm dữ dội. “Xin cậu đấy.”
“Tôi không thể,” Colin nói qua hai hàm răng nghiến chặt trước khi đi đến húc qua bạn anh như thể anh ta còn không có ở đó.
Colin bước xuống cầu thang ba bậc một, lao đầu ra khỏi lâu đài chỉ để bị đẩy bật trở lại bởi một cơn gió táp cùng với mưa. Cơn bão đang hoành hoành dữ dội, sôi sục vì bất mãn và quẳng những tia chớp giận dữ qua những đám mây đùng đoàng. Anh gần như phát điên khi nghĩ về Tabitha đang ở đâu đó ngoài kia, lạc lõng và đơn độc mà thậm chí không có tấm bùa để bảo vệ cô.
Anh đi về phía chuồng ngựa, thầm cầu nguyện Chauncey hay một cận vệ nào đó đã bình phục lại sau cuộc chè chén đêm qua và để ý thấy hướng cô đi. Cơn mưa rải xuống mặt đường đầy sỏi, che khuất tầm nhìn của anh. Anh không thấy một bóng người nhỏ nhắn co rúm bên dưới mái hiên đang rỏ nước cho đến khi anh gần như vấp lên cô. Cô ướt như chuột lột và răng đang đánh lập cập vào nhau.
Anh ngồi xổm xuống bên cạnh cô và dịu dàng gỡ một bện tóc ướt ra khỏi má cô. “Lyssa, em đang làm gì ở đây?”
Đôi mắt tối thẫm của cô đầy sợ hãi, hai mi mắt ướt vì nước mắt. “Em đã để chị ấy đi. Em đã biết trời sẽ có bão, nhưng em vẫn để chị ấy đi. Em mừng vì chị ấy bỏ đi. Em đã cầu nguyện cho chị ấy đừng bao giờ trở lại.”
Colin từ từ rút tay lại, khiến cô càng run rẩy dữ dội hơn. “Hướng nào?”
“Phía Nam, em nghĩ thế. Chị ấy nhờ em chỉ cho chị ấy đường tới nước Anh.”
“Nước Anh?” anh cay mày.
“Chị ấy nói còn một việc chưa xử lý xong. Và rồi chị ấy sẽ bỏ đi thật xa. Xa đến mức anh sẽ không bao giờ tìm được chị ấy.”
“Lạy Chúa,” Colin thều thào, anh đang dần hiểu ra mọi chuyện.
Anh đã từ chối chấp nhận lời đề nghị giúp đỡ của Tabitha và tước đi bùa hộ mệnh quý giá của cô, vậy mà cô vẫn đi đương đầu với Brisbane một mình. Anh tự chửi rủa mình vì đã không thấy trước điều này. Rốt cuộc thì anh đã thấy sự can đảm liều lĩnh của cô trước đây rồi, anh đã thấy cô ngăn người của Roger và những con chó nhe răng gầm gừ chỉ với một thanh gươm mà cô khó khăn lắm mới nhấc nổi.
“Em đã đề nghị đưa cho chị ấy con chiến mã của em…”
“Chiến mã của em!” Colin nắm hai vai Lyssandra kéo lên, lắc mạnh. “Lạy Chúa, cô gái đó là kị mã vụng về nhất anh từng thấy. Nếu con ngựa đó bước hụt một bước thôi, cô ấy sẽ ngã ngựa và làm gãy cái cổ ngu ngốc của cô ấy.”
Trước khi Lyssandra có thể lắp bắp một lời giải thích, anh đã rời đi, xông vào chuồng ngựa và xuất hiện trở lại với một cẳng chân đã vắt qua lưng con ngựa chiến của anh. Ngựa và kị mã chạy như tên bắn qua khoảng sân và xuống cây cầu kéo, tiếng rầm rập của những vó ngựa bị át đi bởi một tiếng sấm buốt nhói.
“Ôi, Chúa ơi, mình đã làm gì thế này?” Lyssandra đứng lên trong cơn mưa đang trút xuống, cảm thấy khốn khổ lần đầu tiên trong cuộc đời an nhàn của cô. “Papa,” cuối cùng cô thì thầm, vui lên bởi một tia hy vọng tràn trề. “Papa sẽ biết phải làm gì.”
Lyssandra rón rén đi qua hành lang có những cột đá hoa bên ngoài phòng khách của cha cô, biết rõ cô đang để lại vệt bùn lấm lem trên những viên đá lát được nhập từ nước ngoài của ông. Mặc dù có rất nhiều căn phòng lớn trong lâu đài, căn phòng khách vẫn là phòng lớn nhất. Sau cánh cửa mạ vàng đó ẩn giấu kho báu quý giá nhất của cha cô—những bản chép tay sơn son thiếp vàng của ông, những cốc rượu cẩm đá quý, và những cái rương chứa đầy thỏi vàng và bạc. Khi còn bé, cô đã dành rất nhiều giờ không đếm xuể để ngồi dưới chân ông trong khi ông kiểm kê những đồng tiền được giao lại từ những người thu thuế của ông hay lau chùi một đồ nữ trang mới nào đó cho đến khi nó sáng chói.
Cô xòe bàn tay lên cánh cửa, nhưng do dự khi nó mở hé ra, cố gắng buột răng cô ngừng đánh vào nhau. Cha cô không bao giờ chấp nhận bất cứ biểu hiện yếu đuối nào.
Trước khi cô có thể nặn ra một nụ cười can đảm, ai đó ở trong phòng nói, “Giờ tới phiên gã khờ đi theo.”
Lyssandra cau mày. Cô như nghe được nụ cười mỉa mai trong giọng nói xa lạ kia.
“Ta đã nói gì với anh nào? Gã như một con chó đực đuổi theo con cái đang lên cơn kích thích. Tối qua gã gần như sục mũi vào dưới váy ả trong đại sảnh.”
Cô nhận ra giọng cha mình, nhưng ngữ điệu tự mãn thiển cận nghe xa lạ còn hơn cả âm điệu của người lạ mặt. Một cơn rùng mình không liên quan gì đến bộ váy ướt cô mặc chạy dọc sống lưng cô.
Đột nhiên cô muốn bước lùi lại, muốn chạy trốn đến căn phòng yên ấm của cô. Muốn nép mình bên dưới những tấm chăn và giả vờ cô vẫn còn là một cô bé con sắp trưởng thành và một ngày nào đó sẽ kết hôn với Ngài Colin vùng Ravenshaw. Nhưng khi cha cô lên tiếng lần nữa, cô biết quãng thời gian ngụy tạo đã chấm dứt.
“Ta không thể tin được gã đần đó lại nghĩ ta sẽ để con gái độc nhất của mình lấy một thủ lĩnh nghèo rớt mồng tơi, sống trong một tòa nhà đổ nát đã bị thiêu trụi. Chúa đã không ban cho ta đứa con trai nào vì sự ngu si vô tận của ông ta, Lyssandra là tất cả những gì ta có thể đổi chác. Nó không đáng giá nhiều, ta thừa nhận, nhưng chí ít nó cũng có thể hy sinh để ta giành được một liên minh hùng mạnh trong những năm tuổi già của ta chứ.”
Lyssandra bụm một bàn tay lên miệng, cầu mong cô sẽ không nôn mửa.
Cô nghe thấy tiếng sột soạt của đầu bút vạch trên giấy da.
“Đấy,” cha cô nói. “Một khi mực trên tờ giao kèo hôn nhân này khô, anh có thể đưa nó đi với lời chúc phúc của ta. Ta chắc nó sẽ trở thành một người vợ duyên dáng và dễ bảo cho chủ nhân anh.”
“Và ngài ấy sẽ rất biết ơn,” người lạ xu nịnh đáp lời. “Không chỉ bởi vì ông đã chấp nhận lời cầu hôn khiêm tốn của ngài ấy, mà còn vì đã xử lí vụ mâu thuẫn kia. Như ông đã biết khi đồng ý chuyển cả khu làng của ngài đến Lâu Đài Arran vào mùa xuân, Ngài Brisbane có thể rất hào phóng với những liên minh của mình.”
“Rất hào phóng. Một khi Ravenshaw chết, chủ nhân của anh và ta định sẽ chia đôi đất đai của gã. Tòa lâu đài đã bị đổ nát, nhưng đất đai vẫn còn phì nhiêu và màu mỡ, đáng cho ta chộp lấy.” Cha cô cười khà khà. “Chí ít tên khốn đó đã miễn cho ta sự lôi thôi khi phải sát hại gã trong giường ngủ. Vết máu dây có thể rất khó gột sạch.”
“Và ông sẽ kết liễu hắn bằng cách nào?”
“Cứ xem như chuyện đó đã xong. Ngay khi con điếm của gã bỏ trốn khỏi lâu đài vào sáng nay, ta đã đoán trước phản ứng của gã và đã bố trí cung thủ ở mỗi chốt biên giới. Bọn chúng sẽ không thể qua biên giới mà còn sống sót.”
“Nh-nh-nhưng đó không phải thỏa thuận của chúng ta.” Giọng người đàn ông run rẩy với cơn hoảng loạn tăng lên. “Người đàn bà đó phải được bình an vô sự. Ả sẽ được giải về cho chủ nhân ta cùng với con gái ông.”
“Ta sẽ không để con gái ta được chuyển đến căn nhà mới của nó cùng với một con điếm tầm thường. Việc đó sẽ có ảnh hưởng xấu đến ta. Sau khi ngài ấy gieo một đứa con vào bụng Lyssandra, chủ nhân của anh có thể tìm cho mình một ả nhân tình khác.”
“Nhưng ông đã thề…!”
Lyssandra biết cô không còn thời gian để nghe thêm hai người đàn ông tranh cãi. Cô phải đi. Phải lấy con chiến mã của cô và đến cảnh báo cho Tabitha cùng Colin rằng họ đang cưỡi ngựa thẳng vào một cái bẫy. Trước khi mọi chuyện quá muộn.
Cô bắt đầu lùi lại tránh xa cánh cửa từng bước một, sợ rằng tiếng lép nhép vì đôi dép sũng nước của cô sẽ báo động cho hai người đàn ông biết sự hiện diện của cô. Cô đã gần đến được cột đá cuối cùng, nơi cô sẽ dám quay người và chạy trốn, khi một bàn tay tàn nhẫn vung ra và bịt chặt mồm cô, bóp nghẹt tiếng thét hoảng hốt của cô.
Colin ghìm ngựa dừng lại trên đỉnh đồi và nheo mắt nhìn qua màn mưa xối xả. Mặc dù anh ướt lạnh thấu xương, anh đã trở nên tê tái không còn phản ứng với sự lạnh lẽo của cơn mưa và trở nên điếc với những tiếng sấm đùng đoàng sưng sỉa từ mấy dặm trước. Tất cả mọi giác quan của anh đều tập trung vào tìm kiếm dấu vết của Tabitha.
Dấu vết đó dường như cứ lang thang vô định vòng quanh cho đến khi bị một đợt mưa gió ào tới xóa đi, khiến anh bất lực như lúc trước. Trong khi len lỏi qua một khu rừng nhỏ, anh đã tìm thấy những vết lá bị dẫm đạp và những tán cây bị bẻ cong, cho thấy có lẽ cô đã bị té. Nhưng anh nhẹ lòng khi không thấy cơ thể bất động của cô ở bất cứ đâu. Hai vết vó ngựa in sâu trong bùn, không thể thuộc về một con ngựa không có kị mã, đã trấn an anh rằng cô đã lê mình lên lưng ngựa trở lại và đi tiếp.
“Có lẽ vừa trèo lên ngựa vừa nguyền rủa tên mình,” anh thì thầm, một nụ cười buồn trên môi.
Anh chí ít đã phấn khởi hơn khi biết cô còn chưa đến được biên giới phía nam của vùng đất MacDuff. Khu đất đó ở ngay phía trước và anh hy vọng nếu anh chờ trên đỉnh đồi này, anh có thể ngăn cô lại trước lúc đó. Ngọn đồi giúp anh nhìn rõ xuống thung lũng bên dưới, chẳng có gì che đi tầm nhìn của anh ngoài nước mưa đang nhiễu xuống từ mi mắt và một cây bu-lô rậm rạp.
Cơn bão dường như đang ngày càng mạnh hơn chứ không hề yếu dần đi. Tiếng sấm nổ giòn như một sợi roi quất và gió rít lên thành tiếng rống của một nữ thần báo tử. Colin kiềm một cơn rùng mình và làm dấu thánh. Một số người tin rằng tiếng khóc của nữ thần báo tử báo trước cái chết sắp đến, nhưng anh luôn muốn đặt số phận của anh vào tay Chúa.
Niềm tin đó được đền đáp khi một dáng người mặc áo choàng và đội mũ trùm chạy nước kiệu xuất hiện, cưỡi ngựa thẳng đến biên giới của MacDuff. Anh nheo mắt chống lại cơn mưa, nhưng thậm chí ở khoảng cách này, anh cũng có thể thề con ngựa láng mướt đó là chiến mã của Lyssandra. Trái tim của Colin bay bổng. Một khi anh ôm Tabitha trong vòng tay anh lần nữa, anh sẽ không bao giờ để cô ra đi.
Anh không thể nói điều gì đã thu hút mắt anh đến gốc cây bu-lô vào lúc đó. Đó có thể là bóng ma của linh cảm hoặc là một sự chuyển động có tính toán trong khi ở đó lẽ ra phải không có gì ngoài những tán lá màu bạc run rẩy trong gió. Một ngón tay của sự khiếp đảm khảy lên gáy anh.
Một người đàn ông đang ngồi xổm trong đám dương xỉ dưới gốc cây cao nhất, áo cánh và quần bó màu xanh đậm khiến hắn gần như hòa lẫn vào những tán lá đẫm nước.
Hắn cẩn thận đưa tay ra sau lưng với sự chính xác và rút một mũi tên có gắn lông vũ từ ống đựng đeo trên lưng.
Colin rút gươm, phản xạ được rèn giũa qua sáu năm chinh chiến khiến anh có khả năng cử động trong khi lẽ ra anh đã tê liệt vì kinh hãi.
Khi anh thúc đai giày vào sườn con chiến mã, bóng người phi nước kiệu qua đồng cỏ bên dưới đã đi được nửa đường qua thung lũng, một mục tiêu dễ dàng cho bất cứ tên sát thủ nào. Gươm trong tay, Colin phóng ngựa như bay xuống đồi, chạy đua với cơn bão, chạy đua với cái chết, chạy đua với thời gian. Với sự rõ ràng sắc nét, một ánh chớp chiếu sáng tên cung thủ, buột Colin phải nhìn hắn lắp tên và kéo dây cung ra sau cho đến khi nó rung lên vì lực đàn hồi. Hắn chờ, đủ kiên nhẫn để chọn thời khắc chính xác mà hắn có thể bắn mũi tên xuyên tim nạn nhân của hắn.
Lạy Chúa trên cao, anh không thể đến kịp. Colin chấp nhận sự thất bại của anh với một tiếng gào cực đại, nhưng một tiếng sấm chói tai át đi lời cảnh báo của anh.
Anh vung thanh gươm ra sau vừa đúng lúc gã cung thủ bắn tên.
Hắn nhắm trúng đích. Kị mã lắc lư, rồi bay khỏi lưng ngựa, hai cánh tay vung ra trong lời thỉnh cầu.
Với một tiếng rống đau đớn chẳng còn là con người, Colin cắm ngập lưỡi gươm của anh vào ngực tên sát thủ, ghim hắn vào thân cây đã được dùng để làm khiên cho hắn. Lực cú vung gươm kéo Colin rớt khỏi lưng ngựa. Anh ngã sầm xuống đất, gập đôi người lại trong sự đau đớn khôn cùng như thể chính trái tim của anh đã ngừng đập ngay lúc đó.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.